Flamenco mang đậm phong cách truyền thống của nền văn hoá Tây Ban Nha hơn bất kì một loại hình nghệ thuật nào khác. Với nhiều người, flamenco có ý nghĩa nhiều hơn một dòng nhạc thuần tuý. Nó là công cụ giúp người ta tìm được sự đồng cảm, là cuộc sống, là tất cả những gì họ trải qua trong đời. Nếu không biết từ duende trong tiếng Tây Ban Nha, sẽ rất khó để hiểu thực chất của flamenco là gì. Thật không may là từ này lại không thể dịch chính xác được. Nó là một điều gì đó tương tự sức thu hút, phẩm giá và sự kiêu hãnh với những ngụ ý sâu xa đằng sau sự huyền bí và cả thói mê tín dị đoan trong muôn mặt cuộc sống của người Gypsy ở Tây Ban Nha.

Mặc dù khai sinh ở Tây Ban Nha nhưng nguồn gốc của flamenco lại là sự kết hợp của nhiều nền văn hoá ngoại lai, mà chính xác là Gypsy, Moor (nguồn gốc Ả-rập) và Do Thái. Khi cùng bị dồn lên sống trên những sườn đồi xứ Andalucia, các nghệ sĩ Gypsy tài năng đã khéo léo kết hợp những tinh tuý của 3 nền văn hoá dị biệt với âm nhạc của dân Andalucia bản địa để tạo ra một dòng nhạc hoàn toàn mới – mà bây giờ chúng ta vẫn gọi là flamenco. 

Ban đầu, flamenco chỉ đơn thuần là những khúc ca bi thương của đám người làm việc quần quật trên cánh đồng, chết dần chết mòn trong các nhà tù hay long đong, vất vả trên chặng đường vô định tìm đất sống cho mình. Chính hoàn cảnh đã tạo nên một thứ flamenco như vậy. Có thể nói, flamenco thời đó đã mô tả đến tận cùng những cảm xúc của một thế giới Gypsy hung dữ, bất cần nhưng cũng hết sức nhạy cảm, một thế giới bị xua đuổi, đè nén, bị thống trị, đàn áp, một thế giới nghèo đói và buồn rầu…

3 yếu tố chính để cấu thành nên flamenco bao gồm: cante – bài hát, baile – vũ điệu và guitarra – phần đệm của guitar. Các ca khúc flamenco thường có chung một vài giai điệu cơ bản, điều quan trọng để tạo nên sự khác biệt là cây đàn guitar, tiếng vỗ tay và tiếng vỗ nhẹ lên thùng đàn. Trước khi cây guitar đầu tiên xuất hiện, ở Tây Ban Nha, người ta chỉ chơi đàn lute (đàn luýt) của người Moore – loại nhạc cụ có nhiều ảnh hưởng lên đàn guitar flamenco và guitar cổ điển. Đàn guitar flamenco truyền thống được làm từ gỗ cây bách ở Tây Ban Nha, nhẹ hơn và nhỏ hơn một chút so với đàn guitar thường. Các dây đàn được bố trí thấp xuống một chút để tăng tốc độ dịch chuyển của tay trái. Đàn guitar flamenco ngày nay là sự kết hợp giữa guitar flamenco truyền thống và guitar cổ điển. 

Những vũ điệu flamenco rực lửa chỉ xuất hiện trong khoảng 100 năm trở lại đây và chịu nhiều ảnh hưởng từ ballet cổ điển, nhưng chúng luôn có nét đặc trưng riêng. Chỉ cần lớn lên và được giáo dục trong môi trường flamenco, người ta sẽ trở thành những vũ công “thứ thiệt” – biết sử dụng gót giày thành thạo, biết cách di chuyển theo đúng kiểu flamenco. Giá trị văn hoá của những vũ điệu flamenco lớn hơn những gì người ta nghĩ về nó rất nhiều. Liếc qua những lớp váy bồng bềnh quay tít trong không gian, nghe thoáng qua tiếng guitar réo rắt đan xen với tiếng gõ nhịp chân xuống sàn là người ta đã liên tưởng ngay đến đất nước Tây Ban Nha rồi. 

Một bài hát flamenco được coi là hoàn chỉnh khi được biểu diễn với người hát (cantaor hay cantaora), người chơi guitar và một, hai người vỗ tay điểm nhịp. Các vũ công sẽ vừa nhảy múa vừa dậm gót xuống sàn làm nền cho ca khúc. Một trong những động tác cơ bản của các vũ công nữ là cầm vạt váy ken nhiều lớp lót lật qua lật lại trước ngực để phô diễn vẻ đẹp, sự gợi cảm, quyến rũ của người đàn bà. Có lẽ flamenco là dòng nhạc duy nhất trên thế giới sử dụng các vũ điệu như một thứ nhạc khí bình thường. Nhịp vỗ tay rộn rã, tiếng bật ngón tay tanh tách cũng dễ lôi cuốn người thưởng thức hơn. Đôi khi có vài tiếng thét đầy phấn khích để tán thưởng hoặc kích động người biểu diễn. 

Flamenco thách thức mọi hình thức phân loại chuẩn mực. Nó chẳng phải nhạc dân gian cũng chẳng phải thứ âm nhạc thời kì tiền cổ điển. Nó là sự ngẫu hứng trên cái nền quy củ, là truyền thống đang tồn tại, có khả năng phát triển và thay đổi. Flamenco Gypsy đặc trưng có thể dễ dàng tìm thấy trong các quán cafe, ngoài trời nhưng hiếm khi được biểu diễn trong các nhà hát chính thống. 

Hai phong cách cơ bản nhất của flamenco là cante jondo – những bài hát nặng và cante chico – những bài hát nhẹ. Cante jondo thường có tiết tấu chậm rãi, nghiêm trang, nội dung về tình yêu không lối thoát, những chàng matador (người đấu bò tót) bất hạnh, sự phản bội và cái chết. Nếu chỉ quen nghe flamenco cante chico, khi được thử qua một bản cante jondo, người ta rất có thể lầm tưởng đó chỉ là tiếng than khóc nỉ non từ ngàn xưa vọng về, lẩn khuất bên những vũ công trong trang phục váy xoè nhiều lớp hay chiếc sơmi trắng và chiếc quần đen ôm sát người. Còn cante chico có nhịp điệu nhanh, nhẹ nhàng hơn, sôi nổi hơn, phần giai điệu cũng phổ thông hơn. 

Flamenco ngày xưa được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác theo kiểu thẩm thấu dần dần. Những người chơi flamenco thời đó không ai có ý thức về con đường biểu diễn chuyên nghiệp. Họ đơn giản chỉ kế thừa và dùng flamenco như phương tiện kiếm sống. Trải qua nhiều năm tháng, những ca khúc flamenco, các kĩ thuật chơi guitar và phong cách của vũ điệu mới được chính thức hoá, sắp xếp thành hệ thống và có điều lệ kèm theo. Cho đến đầu thế kỉ 19 flamenco mới rời khỏi các hang động, quán bar rẻ tiền để đến với đông đảo người nghe. Kết hợp thêm nhiều yếu tố từ khiêu vũ dân gian và cổ điển, vũ điệu flamenco đã gặt hái được những thành công thương mại đầu tiên – cũng một phần do làn sóng dân du lịch châu Âu đổ vào Tây Ban Nha giữa thế kỉ 19. 

Dưới chế độ độc tài Franco (1939 – 1975), flamenco cũng có một bước cải tiến đáng kể khi được tái hư cấu và phổ biến dưới dạng một phiên bản hợp nhất. Bước sang thập niên 80, trước làn sóng xâm thực của văn hoá nghe nhìn Anh, Mỹ, flamenco mai một dần và tưởng như đã lụi tàn nhưng sự xuất hiện của những nghệ sĩ tài danh như Paco De Lucía hay Camaron De La Isla đã làm nó phục sinh. 

Sự bùng nổ về công nghệ truyền thông đã mang flamenco tới mọi sân khấu trên thế giới nhưng xét tới tận cùng, flamenco có lẽ vẫn là thứ âm nhạc của sự riêng tư, thân mật. Người ta sẽ chẳng thể nào nghe được một thứ flamenco đích thực, nguyên bản nhất nếu không phải đang cùng một nhóm bạn nhỏ, ở đâu đó tại miền Nam Tây Ban Nha vào lúc nửa đêm, xung quanh không còn gì khác ngoài một giọng hát, tiếng guitar bập bùng và một thân hình lướt nhẹ dưới ánh trăng huyền ảo… 


Nghệ sĩ guitar flamenco Paco De Lucía

 

Paco De Lucía (qua đời 25/2/2014) được coi là nghệ sĩ guitar flamenco nổi tiếng nhất thế giới – cũng một phần do ông chơi nhạc jazz quá hay. Nhưng dù thế nào thì Paco vẫn là “cây” flamenco tinh tuyền và giàu bản sắc nhất – một nhà cải cách lớn của flamenco hiện đại. Ngoài kĩ thuật siêu việt và óc sáng tạo đã để lại những dấu ấn sâu đậm lên phong cách guitar flamenco thế hệ mới, Paco còn có khả năng kết hợp với các ca sĩ và vũ công hoàn hảo đến lạ kì: họ cùng nhau mang lại những cảm xúc mãnh liệt chưa từng có cho các giai điệu flamenco tưởng chừng như đã rất quen thuộc làm người nghe bàng hoàng, sửng sốt. 

Phi Tuyết